Sắc chàm nở hoa trên rừng Trường Sơn
Ngày đăng: 01/03/2026
Khi những cơn mưa rừng rả rích cuối cùng trút xuống thung lũng Pơr-ning, cũng là lúc cái lạnh của vùng biên phía tây Đà Nẵng bắt đầu nhường chỗ cho những tia nắng ấm.

Những cô gái Cơ Tu trong trang phục truyền thống. Ảnh: Tư liệu

Tôi chọn ngày cuối tuần để rong ruổi các bản làng vùng cao của 10 xã cũ của huyện Tây Giang (nay là xã Avương, Tây Giang và Hùng Sơn), có những lúc ngược núi lên phía tây nơi các bản làng xa xôi vùng cao như A-choong, A-ting, A-rooi, Cha-nóc, nơi xã biên giới xa nhất của thành phố, để thấy không khí bản làng, núi rừng nơi đây như đang cựa mình trong một giấc mơ xuân đầy màu sắc.

Những đóa hoa “lửa” trên đỉnh mây mù

Trường Sơn mùa này lạ lắm. Nó không phải cái màu xanh thẫm đơn điệu của cây lá, mà là một bảng màu rực rỡ đến choáng ngợp.

Từ độ cao hơn 2.050 mét so với mực nước biển, trên đỉnh A-ruung A-choóh (Tiên Sơn) nhìn xuống những cánh rừng già, ta sẽ thấy những đốm lửa đỏ rực cháy lên giữa màu xanh đại ngàn. Đó là đỗ quyên. Người Cơ Tu gọi đó là “hoa của thần núi”.

Đỗ quyên rừng Trường Sơn không nhỏ nhắn như hoa trồng chậu dưới phố, nó là những thân cây cổ thụ xù xì, rêu phong bám đầy, nhưng khi xuân về lại bung nở những chùm hoa đỏ thắm, bền bỉ trước gió gào và sương muối.

Nhưng nếu đỗ quyên là vị chúa tể rực rỡ, thì zi-lang, lơ-lang (tựa hoa ban trắng nơi vùng Tây Bắc) lại là nàng thơ của rừng già. Loài hoa này có cái tên nghe như tiếng gió thổi qua khe đá, cánh hoa mỏng manh, trắng muốt mang một mùi hương thanh khiết đến nao lòng.

Khi zi-lang, lơ-lang nở, người già trong làng bảo nhau: “Tín hiệu mùa vui đến rồi”. Hương thơm của nó len lỏi vào từng hốc đá, theo chân người đi rừng về tận cửa gươl làng, báo hiệu cho một mùa giao duyên mới của đôi lứa vùng cao.

Tôi đi giữa ngàn hoa, cảm giác như mình đang lạc vào cõi thực thực hư hư. Tiếng chim ka-lang hót vang từ phía trời xa, tiếng suối reo vui dưới chân đèo như một bản nhạc đệm hoàn hảo cho vũ điệu của các loài hoa rừng. Xuân về trên vùng cao biên giới, cái đẹp đầu tiên là cái đẹp của tự do, của sự hoang dại nhưng đầy kiêu hãnh.

Nhịp khung dệt và mùi hương của sự thủy chung

Rời khỏi những cánh rừng hoa, tôi bước vào ngôi làng của người Cơ Tu tại thôn Tà-vàng khi mặt trời đã đứng bóng. Tà-vàng nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm truyền thống của Cơ Tu đẹp xao lòng, cái tên làng đã là một câu chuyện đẹp nói về sự nối tiếp mạch nguồn lịch sử, văn hóa, cách mạng thắm tình đoàn kết giữa hai nước Việt - Lào anh em.

Chị Bling Thị A-kêu, Bí thư Chi bộ thôn Tà-vàng nói: “Cái tên thôn Tà-vàng (Ta-vang, xã Tây Giang ngày nay) được lấy từ tên bản Tà-vàng nơi làng cũ nay thuộc nước bạn Lào. Và hiện nay, bên đó vẫn còn tên bản Ta-vàng, có bà con Cơ Tu sinh sống có nét văn hóa tương đồng với bản Tà-vàng bên Việt Nam. Đặc biệt, nhân dân hai bên vẫn luôn nhắc nhớ về nhau thông qua việc thăm thân nhau, nhất là duy trì sắc chàm truyền thống được thêu dệt từ xa xưa, như minh chứng sống động về tình nghĩa của anh em hai nước Việt - Lào nơi dãy Trường Sơn huyền thoại”.

Ở đây, Tết bắt đầu từ mùi chàm. Một mùi thơm ngai ngái, nồng nồng nhưng vô cùng ấm áp. Đó là mùi của lá cây rừng được ủ kỹ, là mùi của sự nhẫn nại. Các A-mế (mẹ), A-ngắh (chị), A-đhi (em) ngồi đó, đôi tay uyển chuyển luồn từng sợi chỉ xanh, đen, đỏ, vàng... để tạo nên những tấm a-duông (tấm tút dài sáu mét), gơ-hul (khố nam) mang sắc phục truyền thống của người Cơ Tu.

Các sắc chàm trên tấm thổ cẩm đối với người Cơ Tu không chỉ là màu sắc, nó là “linh hồn” của trang phục. Ngày xưa, để có được sắc chàm ưng ý, người phụ nữ phải nhuộm đi nhuộm lại hàng chục lần, đôi bàn tay nhuộm màu đen bóng không bao giờ sạch hết, như một minh chứng cho sự đảm đang.

Hãy nhìn kỹ những tấm thổ cẩm ấy. Đó không chỉ là vải vóc. Đó là lịch sử. Là hình ảnh những dãy núi cao, về ngôi sao, hình người múa tâng tung, da dá, hình những loài cây cỏ, lễ hội, ước nguyện... được tái hiện bằng những hạt cườm trắng li ti. Mỗi hạt cườm được dệt trực tiếp vào vải là một lời cầu nguyện cho gia đình bình an, hạnh phúc, may mắn cho người thân.

Em A-Kêu vừa dệt vừa tâm sự với tôi: “Tết này phải xong tấm gơ-hul (khố nam) mới cho chồng. Chồng đi hội mà không có đồ mới mình làm ra, cái bụng không vui đâu. Rồi còn phải dệt một tấm thật đẹp để treo lên bàn thờ Bác Hồ và tổ tiên nữa. Đó là lòng thành của mình mà”.

Cái mùi chàm ấy, quyện với mùi khói bếp, tạo nên một không gian đặc quánh tình thân.

Già làng Cơlâu Blao và lời thề với non sông

Tại thôn Voòng (xã Tr’hy cũ) nay là xã Hùng Sơn, tôi tìm đến nhà già làng Cơlâu Blao. Già năm nay đã bước sang tuổi 73, đôi mắt vẫn tinh anh như chim ka-lang trên đỉnh núi. Trong ngôi nhà sàn truyền thống, Già đang cẩn thận dùng chiếc khăn sạch lau chùi bức chân dung Bác Hồ treo chính giữa gian chính.

Già Blao bảo: “Người Cơ Tu mình, dù có đi đâu, làm gì, cũng không bao giờ quên ơn Đảng, ơn Bác Hồ. Ngày xưa, rừng núi này là chiến trường, đồng bào mình nuôi giấu cán bộ, ăn củ mài, rau rừng để đánh giặc. Bây giờ hòa bình rồi, cái chữ đã về, cái điện đã sáng, con đường nhựa đã nối liền bản làng với phố thị, tất cả là nhờ Đảng, nhờ Bác cả đấy”.

Điều đặc biệt nhất ở vùng cao Avương, Tây Giang và Hùng Sơn hay các xã biên giới Đà Nẵng chính là sự hiện diện của lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc. Trong mỗi gươl làng Cơ Tu - biểu tượng quyền lực và tâm linh của làng là lá cờ đỏ sao vàng luôn được treo ở vị trí trang trọng nhất. Sắc đỏ của cờ hòa cùng sắc đỏ của hoa Đỗ quyên tạo nên một sự cộng hưởng thiêng liêng.

Đêm xuân trên vùng cao biên giới, khi bóng tối phủ xuống đại ngàn, cũng là lúc ngọn lửa giữa mái gươl làng bùng cháy. Đây là lúc âm nhạc và vũ điệu bình minh lên ngôi.

Tiếng trống, tiếng chiêng vang lên, thúc giục lòng người. Những chàng trai Cơ Tu vạm vỡ trong bộ đồ thổ cẩm mới dệt, bắp chân săn chắc, nhảy điệu tâng tung hùng dũng kiên cường đầy uy quyền. Họ mô phỏng lại những chuyến đi săn thú dữ bảo vệ mùa màng, những năm tháng gian khổ, đoàn kết bên nhau vùng lên đánh giặc để giữ làng, giữ đất nước hào hùng của cha ông, của dân tộc.

Đối lập với sự mạnh mẽ ấy là điệu da dá dịu dàng của những thiếu nữ Cơ Tu. Đôi bàn tay họ đưa lên cao, vuông gốc, thẳng hàng, lòng bàn tay hướng về phía trước, bước chân nhẹ nhàng như lướt trên cỏ cây, điệu múa nói lên tấm lòng của người phụ nữ Cơ Tu, sẵn lòng nâng đỡ những người yếu thế, son sắc thủy chung với gia đình, quê hương và đất nước.

Trong tiếng nhạc rộn rã, người ta mời nhau những bát rượu sắn rẫy thơm nồng. Rượu sắn rẫy vùng cao biên giới Đà Nẵng có vị ngọt thanh của men lá, vị cay nồng của tình người. Uống một ngụm, cảm thấy hơi ấm lan tỏa từ lồng ngực ra khắp cơ thể, xóa tan cái lạnh giá của đêm rừng.

Bên bếp lửa hồng, những câu chuyện về mùa màng, về con rẫy, về những dự định trong năm mới được chia sẻ. Người ta không chỉ chúc nhau sức khỏe, mà còn nhắc nhở nhau giữ gìn rừng già, giữ gìn cái chữ, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình.

Sự hồi sinh và khát vọng vươn mình

Đi dọc các xã biên giới hôm nay, tôi thấy một diện mạo mới đang dần hiện hữu. Không còn là những bản làng biệt lập, nghèo nàn của những năm trước. Nhờ các chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Trung ương, của thành phố Đà Nẵng, đời sống của người dân dần thay đổi đáng kể.

Những vườn sâm ba kích tím, đồi cam, ruộng bậc thang chín vàng, những trang trại nuôi bò, nuôi heo đen bản địa đang mọc lên khắp nơi. Du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn liền với văn hóa Cơ Tu bắt đầu dần hình thành, thu hút khách phương xa. Người dân đã biết làm dịch vụ, biết giới thiệu tấm thổ cẩm, chén rượu sắn rẫy, tơr-đin, ba kích, đảng sâm... ra thế giới bên ngoài.

Nhưng dù có đổi mới thế nào, người Cơ Tu vẫn giữ cho mình cái “gốc” văn hóa không thể trộn lẫn. Đó là sự gắn bó mật thiết với thiên nhiên, là tính cộng đồng bền chặt trong mái gươl làng, và đặc biệt là lòng yêu nước nồng nàn.

Mùa xuân này, những đứa trẻ Cơ Tu mặc áo mới, tung tăng đến trường hòa với hương sắc của ngàn hoa đỗ quyên, zi-lang đang kỳ nở rộ. Các em sẽ được học về lịch sử của dân tộc, về công ơn của Đảng, Bác Hồ và về trách nhiệm giữ gìn từng tấc đất biên cương thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạm biệt những nhành đỗ quyên, zi-lang, tạm biệt những người mẹ Cơ Tu bên khung dệt, tôi mang theo về một chút hương rừng, một chút hơi ấm của rượu sắn rẫy và một niềm tin mãnh liệt rằng: Trường Sơn sẽ mãi xanh, sắc chàm sẽ mãi thắm, và mùa xuân sẽ mãi luôn rạng rỡ trên gương mặt của những con người nơi đầu đại ngàn biên xanh.

PƠLOONG PLÊNH

Tin liên quan

Trang 1 / 176 - 1753 dòngFirstPrevNextLast v
Trang 1 / 176 - 1753 dòngFirstPrevNextLast v
Chung nhan Tin Nhiem Mang